dacdiemcuaphongthuy1 - PHONG THỦY THIÊN PHÁT SINH

Quan niệm về phong thủy, lý luận phong thủy, thực tiễn phong thủy phát sinh ra đâu phải là hiện tượng ngẫu nhiên, cũng đâu phải là do sức mạnh bên ngoài cưỡng ép dân ta xưa kia mà nó có do bối cảnh xã hội rất sâu sắc. Nguyên nhân cơ bản nhất là nghèo khốn và ngu muội, là kết quả tất nhiên của nền khoa học chưa phát triển. 

Ngoài các điều ấy ra sự phát sinh của phong thủy còn có liên quan với các nguyên nhân xã hội khác như “đạo hiếu”, người sống nhớ đến người chết, hy vọng chọn được phương thức “hậu Ling” để bổ sung cho chỗ khiếm khuyết về tâm lý, để chở về 1) án về tâm lý. Cũng như trong tường thuật” (thuật xem tướng mạo – ND), nước ta cổ xưa rất thịnh hành các liên tưởng ngựa, tướng trâu, tướng người… bên trong vừa có né tín dị đoan mà cũng vừa khoa học. Thuật xoan tướng và phát đạt tất sẽ dẫn đến thuật xem “tướng đất”. Lại như “thuật số” (tức bói toán các kiểu – ND), ngay từ thời cổ đại nước ta đã hoàn chinh học thuyết âm dương, có đoán số, đoán chữ, lói gây, đoán điềm giải mộng, bói sách vv… đều là các hoạt động mê tín và các thứ mê tín dị đoan này cũng hố trợ lâu dài cho sự ra đời của phong thủy. 

Cân bằng âm dương

| Nguyên nhân cần thảo luận thì rất nhiều, ở đây chỉ bước đầu đi sâu tìm hiểu hình thái ý thức về quan niệm sùng bái liên quan đến thuật phong thủy.

Sùng bái tự nhiên. 

Cuộc sống con người dựa dẫm vào tự nhiên là một thực tại khách quan tồn tại không ỷ lại vào ý thức. Ở cái thời đại khoa học còn chưa phát triển, con người sống thuận theo tự nhiên, khuất phục thiên nhiên. Trong cuốn “Chống Đurinh”, Enghen đã nói:”Thoạt đầu thiên nhiên tỏ ra là một cái gì đó hoàn toàn kỳ lạ, có uy lực vô cùng và là một sức mạnh không sao chế phục nổi, dù là nó đối lập với con người. Quan hệ của con người với thiên nhiên hoàn toàn giống như quan hệ của động vật đối với thiên nhiên, con người cũng như loài vật hoàn toàn phục tùng quyền lực của thiên nhiên”. 

| Con người cho rằng thiên nhiên là “một số chưa biết” vô cùng lớn, có vô vàn đấng tạo hóa có thể tùy ý trong việc làm chúa tể nhân loại. Vì vậy con người đã thần linh hóa tự nhiên, sùng bái tự nhiên. Đối với mặt trời, mặt trăng, các vì sao, núi đồi sông suối, thú chạy chim bay, đất đá cỏ cây…. không có thứ gì mà không kính nể. Sách “Thượng thư – Nghiêm điên” ghi rằng thời Ngu Thuấn “Cúng tế sáu dòng” (nguyên văn: “Yên vu lục tông”). Sáu dòng (tông) đây là dòng trời có mặt trời, trắng, sao, dòng đất có sông, biển, đại (Đại sơn hay còn gọi là Thái Sơn, Thái nhạc – ND chú), Sách “Quốc ng? – Lỗ ngữ” có ghi: “Đền trời là ba thần (tức là mặt trời, trăng, sao – ND chú), dân chỉ việc chiêm ngưỡng, đến đất là ngũ hành (tức kim, mộc, thủy, hỏa, thổ – ND chú), chỉ việc sinh sản, đến năm châu, đanh sơn, khe, đầm chỉ việc xuất của cải mà dùng. Không phải vậy, không phải ở cúng lễ”. (Nguyên văn : “Cập thiên chi tam thần, dân sở dĩ chiêm ngưỡng gia; cập địa chỉ ngũ hành, sở dĩ sinh thực giả, cập ngũ châu danh sơn xuyên trạch, sở dĩ xuất tài dụng giả. Phi thị bất tại tế điển”). 

Thiên nhiên có thể ban phúc cho người, cũng có thể giáng họa cho người, có thể quyết định số phận của con người. Con người phải thuận theo thiên nhiên, đây chính là tiền đề cơ bản của quan niệm về phong thủy. Trên xem thiên văn, dưới xem địa lý, thuận theo tự nhiên dành được mảnh đất có “sinh khí”.. dù để ở hay chôn đều được may mắn, đó chính là hiệu ứng mà phong thủy vẫn hăm hở theo đuổi. 

Sùng bái đất đai. 

Con người đâu có sống lơ lửng giữa trời mà lại dẫm chân trên mặt đất để sống còn trên mặt đất. Đất đai ban cấp cho cơ thể con người, lại ban cấp cho con người nguồn của cải, cứ việc lấy mà dùng chẳng hết. Con người thiết tha với đất đai, gọi đất đai là mẹ hiền. Nhưng đất đai lại biến hóa vô cùng hay chơi khăm con người : lụt lội, hạn hán, sâu bệnh, nóng lạnh… đều là những mối nguy hại cho sự sinh tồn của con người. Con người kính sợ đất đai, cầu đảo đất đai. 

Từ hơn hai ngàn năm trước con người đã cung kính thành tâm tế lễ đất đai. Sách “Lễ ký – Hiệu đặc tê” đã ghi : “Xã là đạo của thần đất. Đất chở vạn vật, trời chúc xuống như voi, lấy của từ đất, lấy phép từ trời, đó là kính trời thân đất”. (Nguyên văn : “Xá, sở dĩ thần địa chỉ đạo giá. Địa tải vạn vật, thiên thùy tượng, thủ tài vu địa, thủ pháp vu thiên, thị dĩ tôn thiên nhi thân địa gia”). Sách “Hiếu kinh tế” ghi : “Xã là thần của đất đai. Đất đai màu mỡ, tế khôn cùng, cố ý phong đất làm xa để bảo đáp công ơn”. (Nguyên văn:”Xã giả, thổ địa chi thần. Thổ địa nhuận bất tận kế, có phong thổ vị xã, dĩ báo công giã”). 

azpt phong thuy nha o - PHONG THỦY THIÊN PHÁT SINH

Lễ nghi tế lễ đất đai có nhiều loại hình thức. Có kiểu đắp dất thành đống, đứng đối mặt với mộ đất mà lễ bái. Có kiểu dùng rượu, máu người hay máu loài vật tưới xuống đất, Ở Quảng Tây có một số thôn trai ở vùng sâu vùng xa còn lưu hành đàn tế đất, cúng lễ thần thổ địa. Ở Vân Nam có một số bản làng ở vùng khuất nẻo lại lưu hành đàn tế đất mẹ, ba năm một lần giết trâu lợn chôn xuống đất coi như đồ tế lễ cúng cho mẹ đất. 

Có một số đất đai bỗng nẩy sinh hiện tượng kỳ diệu. Như Hải Bạt, huyện tự trị người Thổ ở cao độ 1200 mét có làng Duyệt Lai, thôn Tự Viên (chùa) có hai mẫu ruộng nước thật kỳ điệu : bất kể gặp thiên tai hạn hán kiểu gì và có thay đổi bất kỳ giống lúa gì, ở đây vẫn cứ mọc lên gạo thơm đặc sản, mà cái công năng kỳ lạ này cả ngàn năm chẳng đổi thay. Lại như ở tỉnh Hồ Nam, huyện Đông Khẩu, ở Tây Bắc thôn Sơn Môn Thanh Thủy có mảnh đất độ năm chục mét vuông không ngừng tỏa ra mùi thơm kỳ lạ. Ngửi mùi thơm này tinh thần người ta thấy sảng khoái, tâm trí sáng suốt, hết ngay nhọc mệt. Phụ nữ có thai đứng chỗ hương thơm xông lên có thể cảm thấy rõ thai nhi cựa quậy trong bụng. Đó là hiện tượng gì ? Tất nhiên khoa học hiện đại sẽ giải thích đó là do các nguyên tố vi lượng của khoáng vật thiên nhiên tạo nên. 

| Nhưng ở thời cổ đại, đối với các hiện tượng đặc biệt là như vậy không thể có kết luận khoa học được. Do đó người đời trước cho rằng đó là đất lành, đất có linh khí. Người sống trên đất đó sẽ có thể sống lâu, giầu sang, người chết được táng ở đất này có thể âm phò (ngấm ngầm phù hộ) cho người sống. Đất lành đất dữ đều quyết định ở chỗ có “tụ khí” hay không, vì vậy người đời xưa ước định với nhau đã thành phong tục, không cho phép động thổ đào hào, cứ theo truyền thuyết thì làm vậy sẽ tổn thương đến “khí đất” đưa lại tai ương khó đoán. Cho tới nay đắp đường cái, làm đường sắt, hồ chứa nước, xây nhà máy, khai mỏ… thường rất khó trưng dụng đất đai ở trong tay nông dân, nông dân cư hay lấy danh nghĩa sự tàn hại phong thủy tìm đủ cách để ngăn trở công việc ích nước lại dân chung. 

Đất đai có ảnh hưởng đối với con người không ? Câu trả lời khẳng định là có. Lấy âm trạch làm ví dụ, khi chôn cất người chết có một số chỗ đất chốn mà tử thi không dễ tan ra, bảo tồn hoàn hảo, đó là vì ở đấy chất đất khô ráo, thuần khiết, độ ẩm ổn định. Cũng thường xây chuyện lạ, vì điều kiện đất đai tốt nên có tư thi đã mất hết trị giác (chết giả) lại sống lại. Công phu Yoga Ấn Độ có thể chôn người sống xuống đất một số ngày mà không chết, chuyện này chắc cũng có liên quan đến chất đất. Ngược lại, nếu chôn tử thi xuống nơi đất ẩm ướt là nơi siêu vi khuẩn sinh sản cực dễ dàng trong đất rất mau phân hủy xác người chỉ còn lại một mở xương. Vì vậy thầy phong thủy thường lợi dụng tính chất này xui mọi người nên chọn đất và dân gian cũng dễ dàng tin cái bài bản này của họ. Thầy phong thủy còn bịa đặt bảo khí đất có thể quyết định cả tiền đồ của người ta, có thể đưa lại giàu sang phú quý, đồng thời lại lấy ít nhiều trường hợp đặc biệt ra để thuyết phục khiến cho người ta vốn đã ôm ấp sự hoang tưởng lại càng cắn câu rầm rầm.

sùng bái núi cao

Đất nước ta núi chiếm hai phần ba. Các triền núi dài dằng dặc là cột sống nhô cao của đất liền, các ngọn núi chót vót là cột đá chống trời. Người đời trước chúng ta cho rằng núi lớn có đầm dàn “khí”, cách trời rất gần, là nơi trú ngụ của thần linh. Ý chí của trời xanh thông qua các núi lớn truyền dẫn xuống cho nhân gian. 

Theo truyền thuyết, vào thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy dân đời xưa đã bắt đầu tế núi. Thời Ngu Thuấn đã “nhìn lên núi khe, rải khắp các xã”. Sau khi bước vào xã hội có giai cấp, núi lớn lại càng được thần thánh hóa. Sách “Lễ Ký – Phép tê” nói : “Núi rừng khe lung lăng mộ có thể đùn mây làm mưa gió, thấy quái vật đều xưng thần linh cả”. Rất lắm thần núi, như sách “Sơn hải kinh” có “Năm tạng kinh núi” từng ghi lại là có gần 400 vị thần núi. Phương pháp tế lễ cũng có nhiều kiểu. Kiểu đơn giản nhất là dùng gà, dê, lợn, đá quý ném vào thung lũng hay treo trên ngọn cây gọi tế kiểu “ném” và “treo”. Kiểu phức tạp hơn là nhà vua dẫn triều thân văn võ chọn ngày lành tháng tốt cử hành nghi thức tế lễ thật long trọng. 

| Thông thường được hưởng tế lễ nhiều là núi Ngũ nhạc tức là Trung nhạc Trung Sơn, Đông nhạc Thái Sơn, Tây nhạc Hoa Sơn, Nam nhạc Hành Sơn, Bắc nhạc Hằng Sơn. Năm núi “Ngũ nhạc” này phân bố ở các khu vực không đồng đều, hình thế núi cũng khác nhau : Hằng Sơn như đang đi, Thái Sơn như ngồi, Hoa Sơn như đứng, Trung Sơn như nằm, Hành Sơn như bay. Trong Ngũ nhạc thì Thái Sơn là tôn quý nhất. Sách “Lễ ký – Phong thần thư chép lời Quản Trọng bảo “Người xưa phong Thái Sơn là người cha nổi bật của bảy mươi hai nhà”. Nguyên văn: “Cổ giả phong Thái Sơn thiền lượng phụ gia thất thập nhị gia”). Sở dĩ núi Thái Sơn được vinh dự đặc biệt như thế vì nó đứng sừng sững trên bình , nguyên Tà, Lỗ vốn có nền văn hóa phát đạt, sát gần biển lớn nên càng tỏ vẻ cao chót vót. Dân đời xưa cho Thái Sơn là đàn anh của Ngũ nhạc trấn giữ đất trời. Khổng Tử từng nói : “Lên Thái Sơn thấy LỖ quá bé”. (Nguyên văn: “Đăng Thái Sơn nhi tiểu lổ”), Tần Thủy Hoàng cùng các hoàng đế khác trong lịch sử đều tế lễ núi Thái Sơn. Trên núi có miếu Đài (chữ Thái Sơn còn gọi là Đài – ND chí), đây là nơi các vị hoàng đế làm lễ cáo tế phong Thiền (tức tế trời đất – ND chú) và cử hành các lễ lớn. 

Truyền thuyết bảo núi Thái Sơn có liên quan đến sự may rủi của con người. Sách “Phong tục thống nghĩa – Chính thật” có ghi lại : “Trên núi Đài Sơn có hòm bằng vàng, có roi ngọc có thể biết tuổi thọ của người ta ngắn dài”. Sách “Hậu Hán thư – Truyện Ô Hoàn” chép rằng: “Người Trung Quốc chết hồn về Đài Sơn”, Sách “Thái Bình Quảng Ký” quyển 99 có chép: “Núi Thái Sơn trị quỷ”. Sách “Thái bình ngự lãm” quyển 881 chép thần núi Thái Sơn “thở ra khiến người không bệnh”. (Nguyên văn : “Hộ chi lệnh nhân bất bệnh”). Sách “Mộng Lương Lục” quyển 2 ghi rằng thần núi Thái Sơn “nắm sự chết sống nhân dân khắp thiên hạ trong tay”. Sách “Hậu Hán thư – Truyện Hứa Mạn” chép: “(Mạn) lúc bé bệnh nặng, ba năm không khỏi cho tới lúc yết kiến Thái Sơn xin mạng sống”. Nguyên văn :”(Mạn) tiểu thưởng đốc bệnh tam niêm bất duy nãi yết Thái Sơn thỉnh mạng”. 

Núi có quan hệ với phong thủy. Sách “Sơn Hải Kinh – Hải ngoại Bắc Kinh” chép rằng: “Hơi thở của thân núi chính là gió. Khi thổi khí, thế giới bên là mùa Đông; khi bà khí, thế giới bèn là mùa hè. Núi Thiếu Thất Trung Sơn ở tỉnh Hà Nam ở chân núi phía Nam có cái “huyệt gió”. Mỗi khi trời nổi gió lớn thì trong động lại phát ra tiếng gió gào rú, sau đó gió từ trong động thổi thốc ra. Bên cạnh “huyệt gió” có xây “chùa huyệt gió”, từ thời Hán, Ngụy trở đi hương lứa rất sầm uất”. 

Phong tục dân gian gọi người chết là “về núi”, mồ mả là núi, cửa mộ là cửa núi, người gieo quẻ xem tướng số gọi là người 

núi (“sơn nhân”). Hinh núi quyết định họa phúc của con người. Sách “Nghệ săn loại tu” quyển 7 dẫn đến “sách về tướng mộ” nói: “Thanh Ô tử bảo núi nhìn như hình trăng khuyết hay như lòng thuyền, chôn vào sinh phú quý. Núi nhìn như ổ gà, chôn vào hại cả nhà. Núi mà chồng chất nhìn như lầu đánh trống, chôn vào chậu liền hai ngàn thạch”. 

Dãy núi liền liền như kinh mạch của con người lại giống như rồng bay múa, thầy phong thủy gọi là long mạch (mạch rồng) đồng thời lấy đó mà làm nên văn chương. Các quan niệm như thế đều từ tục sùng bái núi cao mà dần dà diễn biến hình thành .

Sùng bái gió. 

Gió là không khí lưu động. Triết học xưa đối với gió cũng có đủ dạng nhận thức. Sách “Trang Tử – Tiêu dao đư” nói : “Ngụm khí lớn, tên đặt là gió”. (Nguyên văn: “Phu đại khôi y khí, kỳ danh vị phong”). Sách “Hoài Nam tử – Thiên văn huấn” nói : “Khí của trời rải ra, giận thành gió”. (Nguyên vẫn : “Thiên chi thiện khí, nộ giả vị phong”). Sách “Thuyết uyển” nói : “Khí trời đất, hợp lại sinh gió”. 

Gió từ đâu sinh ra ? Triết học xưa cho là từ đất. Sách “Hoài Nam tư – Lãm minh” nói :”Sức giúp nước yếu, trú đêm huyệt gió”. (Nguyên văn: “Vũ dục nhược thủy, mộ tác phong huyệt*) ghi chú là :”Gió lạnh Tây Bắc từ đất chui ra”. Trương Hoa đời Tốn viết trong “Bác vật ch” : “Núi gió có đầu vuông cao ba trăm dặm huyệt gió như bếp điện sâu ba mươi dặm, gió xuân từ đó mà ra”. (Nguyên văn : Phong sơn chi thủ phương cao tam bách lý, phong huyệt như điện đột, thâm tam thập lý, xuân phong tự thử nhi xuất gia). Điều đó muốn nói gió bấc từ trong đất ra, gió xuân từ trong động ra. 

azpt khai niem phong thuy - PHONG THỦY THIÊN PHÁT SINH

| Gió giúp sự biến hóa của vạn vật có thể giúp cây có tốt tươi, phấn hoa gieo rắc. Sách “Bạch hổ thông” nói :”Lời của gió bắt đầu … gió êm đến đất ấm, gió sáng đến vạn vật sinh sôi… gió ào ạt đến vạn vật rạp xuống…”. 

Gió có liên quan đến sự lành dữ của người ta. Gió có thể xô đổ hỏng nhà cửa, ảnh hưởng đến sự đi lại, Chu Vũ Vương đánh Trụ, gió lớn bật nóc. Tần Thủy Hoàng qua sông đến đền Trương Sơn bị gió lớn chặn đường. Sách “Sư ký – Thiên Quan thư chép :”Gió từ phương Nam tới : đại hạn; Tây Nam tới : hạn nhỏ, phương Đông: nước lớn, Đông Nam : dân có dịch bệnh, năm hạn”. 

Như thế triết học xưa rất tôn sùng gió. Họ Phục Hy, họ Như Oa lấy chữ Phong làm họ. Tưởng của vua Hoàng Đế có Phong Hậu. Thời Xuân Thu bốn nước Nhâm, Túc, Tu Câu, Chuyên Du đều là họ Phong. 

Tôn sùng gió tất nhiên phải quan sát gió. Sách “Chu Lễ – Xuân quan” nói : “Họ Bảo Chương) cho mười thì có hai đàn tế gió hòa trời và đất, lệch khác hẳn với điềm của yêu (quái)”. Thời Hán rất thịnh hành môn “phong giác”. Phong giác là một loại thuật số đoán gió. Sách “Hậu Hán thư – Chuyện Lang Ngại” nói : “Phụ Tông (tên) tự là Trọng Tuy, học Kinh Thị “Dịch” giỏi phong giác, tính sao, sáu ngày bảy phân”. Chú thích: “Phong giác là nói chờ gió bốn phương, bốn góc, để đoán dữ lành”. Sách “Tân Đường thư – Văn nghệ cho ghi chép là có mười quyển “Phong giác” của Lưu Hiếu Cung, đã bị thất truyền. 

| Vì có các tình hình như trên, vì vậy thuật tương đất liệt “phong” (gió) vào là một nội dung trọng yếu. 

| Thầy phong thủy tuyên truyền cho thuyết “Bát phong” (Tám gió): Mặt trước huyệt có ao phong (ao :hõm xuống) tất minh đường nghiêng xuống, án sẽ chẳng có, đường khí khó thu, lay động đến thể ngưu, chủ nghèo khốn tàn bại. Sau huyệt có ao phong tất cánh tay bị lạnh, tất nhiên chẳng có gì để dựa, sào huyệt không nổi lên, chủ yếu thọ không con. Bên trái huyệt có ao phong là long sa yếu mềm vô tình, chủ việc trong phòng (nhà) vắng vẻ cô quạnh. Bên phải huyệt có ao phong tất là bạch hổ trống thiếu, không có phòng nhỏ ý chỉ vợ lẽ nàng hầu thời phong kiến – ND chú)… chủ em yếu, con non nớt, bại tuyệt yêu vong. Hai vai huyệt có ao phong tất khi đang có thai thì thai sẽ bị thương, các mặt khác dù có | “phong” tốt cũng vẫn chủ sự bại tuyệt. Hai chân có ao phong tất nơi con cháu tế mộ chầu lạy bị sụt lở, không phải bắn chọc vào nhà chính tất nhiên họng nước bay xiên, chỉ việc phá nhà bại sản. Trong tám “phong” đó, gió Cấn ở phương Cấn là ác nhất, đó là vì cung Dần vị sao Cơ, Cơ là sao gió, Như thế tức là khiến cho đất có nước rồng sinh vượng, Cẩn ngôi cung Dân để chiều gió Cấn, nhẹ nhất cũng là phải gió phát cuồng, nặng nữa tất nhà tan người chết. 

Thuy t “bát phong” có thể truy ngược tới thời Tiên Tần, các bậc ti n triết khảo sát phương vị đề xuất ra khái niệm tám phương. Sách “Lã thị Xuân Thu • Hữu thủy lãm” nói : “Thế nào là tác phương ? Đông Bắc là Viêm phong, Đông là Thao phong, Đông Nam là Huân phong, Nam là Cự phong, Tây Nam là Thế Phong, Tây là Giáng phong, Tây Bắc là Lệ phong, Bắc là Hàn phong”. Sách “Xuân thu khảo đi bưu” viết : “Bát quái chủ Bát phong cách nhau bốn mươi lăm ngày. Cân chỉ Điều phong, Chấn chỉ Minh thứ phong, Tôn chỉ Thanh minh phong, Ly chỉ Cảnh phong, Khôn chỉ Lượng phong, Đoài chỉ Xương Hạp phong, Càn chỉ Châu phong, Khảm chỉ Quang Mạc phong”. Bát phong trên đây không mang sắc thái mê tín. 

“Bát phong” của thầy phong thủy lại gắn liền với sự lành dữ của việc người đời, ví như đưa lời quyết đoán : bần cùng bại tuyệt”, “yêu thọ vô tử vv… Người chết chôn đã nằm sâu trong đất của huyệt rồi thì còn sợ gì “ao phong” ? Các thứ “ao phong”, đó với bước đường tương lai của người sống thử hỏi có quan hệ chỗ nào ? Hoàn toàn là lời nói nhăng nói cuội. 

Sùng bái nước. 

Nước là thứ cần thiết với đời sống con người. Sách “Quản tử – Thủy địa” nói nước là “Nguồn gốc của vạn vật, là bà con của mọi thứ sống”. (Nguyên văn : “Vạn vật chi bản nguyên, chư sinh chi tôn thất”). Nước có thể tạo nên hạnh phúc cho người, cho người đồ uống, tắm rửa, tưới vv… Nước cũng có thể gây họa cho người : dâng ngập ruuộng đồng, nhà cửa, dìm chết người, súc vật. Người cảm kích nước mà cũng hãi sợ nước, nên gọi nước là thần. 

Gọi nước là Thủy Bá. Sách “Sơn Hải Minh – Hải ngoại động kinh” nói : “Thung lũng Triều dương, thần bảo Thiên ngô, chính là Thủy Bá”. (Nguyễn Văn : “Triều dương chi cốc, thần viết Thiên ngô, thị vị Thủy Bá”), Thủy Bá có 8 đầu, mặt như một người. Gọi là nước là vì nước mẹ. Vương Bao trong cuốn “cải hoài tự trung” có câu: “Huyền vú bộ hề thủy mẫu, dư ngô kỳ hề Nam Vinh”. 

| Gọi là thủy vì nước là thần. Sách “Quản tủ – Thuy địa” có câu: “Tập trung ở trời đất, mà sản sinh ở vạn vật, sản sinh ở vàng đá, tập trung ở mọi vật sống, xưa bảo là Thủy thần”. 

Thần Sông Lạc gọi là Mật Phi, thần sông Trường Giang gọi là GiangPhi, thần Sông Tương là Tướng Quân. Thần biển Đông gọi là Ngung Hỗ, thần biển Nam gọi là Diên Hồ Dư, thần biển Tây là Yếm Tư, thần biển Bắc gọi là Huyền Minh. Ngoài ra còn các thần hồ, thần suối, thần giếng. 

Nước có ảnh hưởng trọng yếu đối với cuộc sống con người. Truyện “Tây Du ký” chép người ở Nữ nhi quốc chỉ cần uống nước sông Tử Mẫu (Mẹ con) là toàn sinh con gái, Sách “Sơn hải kinh” chép núi Thạch Xuệ phía Bắc có nhiều hang động, nước tưới bắt nguồn từ đây, chảy dồn vào Ngung Thủy, trong nước có vấn đó vớt lên bôi vào mình trâu ngựa có thể tránh được mọi bệnh. Sách “Bão Phạc tử chép rằng: “Huyện Lâm nguyện có họ Liễu đời đời nối nhau sống thọ, sau dời đi nơi khác con cháu rất dễ chết non. Có người khác dọn đến nơi cũ của họ Liêu lại đời đời sống thọ”. Từ đó suy đoán nơi có quan hệ đến tuổi thọ của người ở, thế là lý do gì ? Qua quan sát mới phát hiện ra nơi họ Liêu ở vốn có một cái giếng, nước giếng mầu đỏ, đem bới giếng lên thấy dưới đáy giếng có mấy chục hộc đơn sa (còn gọi là chu sa – ND chú), đơn sa hòa tan vào nước, uống vào sống lâu. 

Căn cứ vào số hiện tượng trên, thuật phong thủy càng rất coi trọng nước, gọi ông là thủy long (rồng nước, nước (thủy) có thể tụ khí, con người được hưởng sinh khí này có khả năng được giàu sang.

Sùng bái rồng. 

Rồng là loài động vật thiên theo truyền thống có tài biến hóa, nối gió mưa, có lợi cho vạn vật, thân dài có vẩy. Người ta nói rồng đầu ngựa mình rắn, nằm ẩn dưới đáy vực sâu chín tầng, quản lý nước của sông hồ, biển cả. Rồng có thể bay lượn trên mây, chui xuyên qua sắt đá, quẫy đổ cả núi non. 

Các nhà triết học cổ xưa ở nước ta đã sùng bái rồng từ rất sớm. Thời họ Phục Hy, Thái Bá đã xuất hiện tên thụy (đẹp) của rồng, phong cho rằng chức quan: rồng xanh là quan mùa Xuân, rồng đỏ quan mùa Hạ, rồng trắng quan mùa Thu, quan mùa Đông là rồng đen, còn quan ở chính giữa là rồng vàng. Sách “Tả truyện – Thiệu Công 19 năm” có chép nước Trinh nổi nước lụt lớn, có rồng đánh nhau dưới vực Vệ ở ngoài thành, có một số triều thần xin hãy làm lễ nhà nước rước tế rồng, đại thần chấp chính là Tử Sản không chịu bảo:”Ta chẳng cầu gì ở rồng, rồng cũng chẳng cầu gì ở ta” ! 

Ở nước ta có một số dân tộc ít người cũng sùng bái rồng. Dân tộc Bạch có “tranh rồng, dân thôn cho rằng mình và rồng có quan hệ huyết thống, họ chính là cháu chắt của rồng. Bộ tộc Phu Mi có lễ tế rồng ở đầm; lập đài cao trong rừng sâu hay núi cao dùng rượu, sữa bò, trứng gà v.v… để làm vật tế, khấn khứa thần rồng bảo hộ cho người và gia súc thịnh vượng. Người Hán cúng tế rồng, chủ yếu là xin rồng chở dâng nước lụt, chở gây hạn hán, tranh thủ cho luôn được mùa màng. 

Rồng là loài vật có vóc dáng to lớn, cũng uốn lượn liên miên như dãy núi nên người ta thường ví rồng với núi, ở huyện Hồn Nguyên tỉnh Sơn Tây có trái núi hình thế hùng vị, khí núi mịt mờ, chân núi biếc xanh người ta bèn gọi là núi Rồng. Ngoài ra ở huyện Giang Lăng tỉnh Hồ Bắc, huyện Bảo Phong tỉnh Hà Nam, huyền Triều Dương ở Liêu Ninh v,v… đều có núi Rồng (Long Sơn). Lại còn huyệt rồng. Như ở huyện Thường Ninh tỉnh Hà Nam có một cái huyệt rồng, trong huyệt có đất đen, trời hạn hán người ta lấy nước tưới vào huyệt, nghe nói làm thế là có mưa ngay. Ở huyện Từ Thủy tỉnh Hà Bắc, có núi Long Sơn ở Tây Nam huyện có 4 cái huyệt, theo dân gian truyền lại thì huyệt phía Đông nổi gió xuân, huyệt Tây thổi gió thu, huyệt Nam thổi gió mùa hè và huyệt phía Bắc nổi gió bấc. Lại còn Long môn (cửa rồng), Long tuyền (suối rồng), Long tỉnh (giếng rồng), Long khâu (gò rồng), Long khê (khe rồng) vv… Thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây về đời Đường có Long trì (ao rồng) trong cung Hưng Khánh ở đây thường có khói mây bốc lên, người thời đó gọi là Long khí (hơi rồng). 

| Thuật phong thủy hay vay mượn các quan niệm có liên quan đến rồng ở trong dân gian, gọi các núi có hình thế uốn éo là long mạch hoặc sơn long (rồng núi) gọi các sông có nguồn từ xa xôi chảy về là thủy long (rồng nước). Và rồng còn có can long, chi long, chân lông, giả long, bệnh long, tử long, lại long, khử long, trực long, hoành long, tiềm long, thiểm long v,v… 

Thuật phong thủy lấy núi rồng là nơi đất tốt. Thời Đông Tấn, Mộ Dung Hoàng cho vùng đất phía Bắc Liễu thành, phía Nam Long Sơn là nơi đất phúc đức bèn phái Dương Du tới xây Long Thành, xây cung Hòa Long, rồi còn dựng đền Long Trường trên núi… Dân tộc Thái có một số thôn trại có Long lâm (rừng rồng) để chôn người chết. Dân tộc Chàng (ta quen gọi là Choang – ND chú) có một số thôn trại có đất Long đầu (đầu rồng), nếu đem người chết chôn vào đầu rồng thì hậu vận con cháu sau này sẽ ăn nên làm ra. 

Núi rồng, hồ rồng thì có “khí” rồng. Nghe đồn đời Tần Thủy Hoàng ở Đan Đồ thuộc Giang Tô, có khí rồng, khi Châu Nguyên Chương sinh ra đời (sau này là vua Thái Tổ nhà Minh – ND chú) ở Phụng Dương cũng có khí rồng. Đó đều là chuyện các thầy phong thủy đặt ra. 

Phong thủy cho nơi tập kết khí mạch của núi gọi là Long huyệt (huyệt rồng). Long huyệt phù hợp với việc đặt mộ táng và có thể gặp may mắn. Sách “Mặt truyền thuy long kinh” nói “Hoành cung long huyệt sinh vinh hiển, tá hợp xuyên long chủ phát tài” (nghĩa là : vòng cung ngang (nằm ngang) huyệt rồng sinh vinh hiển, mượn hợp xuyên rồng chủ (việc), phát tài). Nhưng, Long huyệt cũng chỉ dành phú quý cho người tài mới có thể được hưởng thụ, còn các kẻ sĩ nghèo hèn nói chung nếu có chiếm được huyệt rồng thì chỉ tổ chuốc lấy tai vạ mà thôi. 

Do đó, có thể thấy quan niệm về rồng trong phong thủy cũng từ sự sùng bái rồng trong đời thường diễn biến mà sinh ra.

Sùng bái linh hồn. 

Dân đời xưa rất kính trọng người già. Khi người già từ trần, vẫn coi người chết, cứ như chưa chết, ít nhất là linh hồn vẫn còn tồn tại. Linh hồn phiêu du trong thế giới u minh, lẫn với người sống, linh hồn có năng lực siêu nhiên có thể giúp đỡ con cháu, mang may mắn lại cho người sống. Sách “Lễ ký – Giao đặc tính” nói : “Khí hồn trở về trời, hình phách quay về đất”. (Nguyễn văn : “Hồn khí quy vu thiên, hình phách quy vu địa”). Như thế là người ta chia con người thành hai phần hồn và phách. Dân tộc Di cổ đại cho rằng người ta có ba hồn, người chết nhưng linh hồn không chết, một hồn do ngọn phướn chỉ đường đưa về với vùng đất tổ tiên đã phát dương lên, một hồn giữ phần mộ của mình còn một hồn trở thành linh hồn tiên tổ ở lại nhà cũ để hưởng sự phụng thờ. 

Tại sao người xưa lại nảy sinh quan niệm linh hồn bất tử ? Enghen trong cuốn “L. Phabach và sự cáo chung của nền triết học Đức” đã nói khá rõ về vấn đề này : “Ở thời đại xa xưa con người chưa hoàn toàn hiểu biết về cấu tạo cơ thể mình, đồng thời còn bị ảnh hưởng các hiện tượng từ trong mộng mị do đó nảy sinh ra một loại quan niệm : hoạt động tư duy và cảm giác không phải là hoạt động của cơ thể họ mà là một loại hoạt động độc đáo của linh hồn trú ngụ trong thân thể con người và rời bỏ thể xác khi con người chết. Từ lúc này trở đi, con người không thể không suy nghĩ về quan hệ giữa cái linh hồn đó với thế giới bên ngoài. Tất nhiên khi người chết, linh hồn rời xác thịt vẫn tiếp tục sống, do đó chẳng có bất kỳ lý do gì để tưởng tượng rằng bản thân của hồn vẫn còn bị chết, từ đó sản sinh ra quan niệm linh hồn bất tử. Quan niệm này ở cái giai đoạn phát triển đó quyết không phải là một sự an ủi mà là một số mệnh không chống nổi, đồng thời lại là một thứ không may chân chính”. 

Sự không may đó rơi vào đầu óc người xưa càng rất dễ sản sinh ra phong thủy. Nhận thức rằng con người tuy chết vẫn như còn sống. Người chết là gốc, người sống là cành, gốc và cành mãi mãi liền nhau. Nếu người chết chẳng yên, người sống cũng chẳng vinh gì. Nhưng làm sao biết được người chết yên hay không yên ? Có hai phương pháp đoán : một là xem lại phần mộ, có một số địa phương thịnh hành cách chôn hai lần, mở quan tài xong phát hiện thi thể rữa nát rõ ràng thì cho rằng người chết ở dưới đất đã bị dày vò ghê gớm. Còn một phương pháp phán đoán nữa là nếu người sống cứ bị tật bệnh, tai nạn v,v… thì cho là tại người chết không ở yền mà sinh ra. 

Thế thì làm sao cho người chết được an nhàn ? Đã có thầy phong thủy phát minh ra cả mở phương pháp tin tưởng đất, từ long mạch đến chất đất, từ miệng huyệt đến bốn bề quanh huyệt… nói là để chọn đất quý phong thủy, thi thể người chết không còn bị rữa nát, linh hồn người chết sẽ âm phù cho người sống. 

| Kỳ thực người chết như ngọn đèn tắt còn có linh hồn nào nữa ! Không có linh hồn thì còn nói chuyện gì là “âm phù” (phù hộ ngầm – ND). Dễ thấy rằng mời thầy phong thủy tìm đất quý chẳng qua chỉ là trò bày đặt mất công vô ích.

 

 

0/5 (0 Reviews)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *