azpt khai niem phong thuy - 7 Danh xưng của phong thủy và những điều cần nên biết

7 Danh xưng của phong thủy và những điều cần nên biết

Chữ “phong thủy” mà mọi người thường nói trên thực tế bào hàm hai ý. Có khi dùng để chỉ địa hình tốt, phong cảnh đẹp. Như khi mọi người đi chơi trên sông Ly thường tức cảnh sinh tình, không nén nỗi để kêu lên:”Phong thủy này mới đẹp làm sao” ! Khi người ta mua được tấm thảm trải phòng, cũng hay nói : “Phong thủy đẹp quá “. Có khi “phong thủy” lại là chỉ “thuật phong thủy” tức là lý luận và thực tiễn về phong thủy. Như khi mọi người bảo: “Ông X giỏi về phong thủy”, “Ông Y nghiên cứu về phong thủy, “Ông Z dựa vào phong thủy kiếm ăn. 

a) Phong thy và thuật phong thủy.

Nghiêm túc mà nói, phong thủy và thuật phong thủy có khác nhau. Phong thủy là một tồn tại khách quan, Còn thuật phong thủy là hoạt động chủ quan đối với tồn tại khách quan. Bản chất của phong thủy là thiên nhiên, bản thể của thuật phong thuy là con người. 

Do con người có thói quen lẫn lộn phong thủy và thuật phong thủy với nhau nên chúng ta cũng không nên cố sức phân tách rõ ra, chỉ có điều cần chú ý xem khi người ta nói đến hai từ “phong thủy” thì cốt lõi là nói đến khách quan hay chủ quan, để hiểu cho chính xác ý tứ của người nói. 

Phong thủy là thuật ngữ đặc biệt được đặt ra, được giải thích sớm nhất là Quách Phác đời Tấn. Trong sách “Táng Kinh”, Quách Phác viết : “Chôn, lợi dụng sinh khí. Khí thừa phong tất tan, giới hạn thủy tất ngừng. Người xưa tụ tập để không cho tan, đi để khỏi ngừng, phong thủy là với ý đó”. (Nguyên văn : “Táng giả, thặng sinh khí dã. Sinh khí thặng phong tốc tán, giới thủy tắc chỉ. Cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử bất chỉ. Cố vị chi phong thủy”). Suy đến cùng thế nào là thặng, thế nào là tụ, thế nào là phong, cái gì gọi là khí… Quách Phác lại không phát triển lập luận của mình.  “Phong” (gió): là hiện tượng không khí chuyển động. “Thủy” là nước chảy. “Khí” tức là chỉ khí của đất. “Sinh khí” là khí đất có sinh cơ (cơ sống). “Thăng” sinh khí là tìm tòi và lợi dụng cái khí đất có sinh cơ. Phong thủy là môn thuật số tìm và lợi dụng sinh khí. 

azpt khai niem phong thuy - 7 Danh xưng của phong thủy và những điều cần nên biết

Phạm Nghị Tân đời Thanh chú thích “Táng kinh” của Quách Phác nói: “Không có thủy thì phong đến mà khí tán, có thủy tất khí ngừng mà phong không có. Hai chữ “phong, thủy” là vô cùng trọng yếu đối với môn địa học, nhưng trong đó đất mà được thủy là hạng nhất, đất mà giấu phong là hạng hai”. Như thế có nghĩa là mấu chốt của tướng đất là nhân thủy tụ khí, nếu không có thủy, phong vừa thổi thì đã thổi tán khí đi rồi. Chỉ cần có thủy, khí át sẽ tụ tập, phòng cũng sẽ không thôi bạt đi, Đất có thủy là đẹp nhất, đất đón gió là thứ hai. 

Vì vậy các nhà phong thủy qua các đời đều phải nắm long mạch trong tay vì long mạch là khí của đất, khi muốn tới phải do thủy dẫn, khí mà ngừng là do thủy chặn, khi mà tụ thì chẳng phong nào thổi tan được. Có sinh khí, người được táng sẽ có phúc ấm. 

Thời cổ đại từ phong thủy được dùng rất phổ biến trong dân gian, về phía quan nha cũng không kém. Trịnh Hòa đời Minh đi sự sang phương Tây, trên thuyền có cả nhân viên quản việc phong thủy, các nhân viên này chịu trách nhiệm xem “phong” xét “thủy” dọc đường, tất nhiên so với sự hiểu về “phong thủy” của chúng ta là hai vấn đề khác nhau. 

b) Hình pháp. 

Sách “Hán thư – Nghệ Văn chí” có loại hình pháp. Thế nào gọi là hình pháp ? Sách đó nói : hình pháp lấy theo quy mô lớn cả chín chấu để lập thành hình thành quách nhà cửa, độ số của cốt “pháp” từ người đến lục súc, hình dung của đồ vật để cầu tin tức sang hèn lành dữ. Theo luật có dài ngắn mà các dấu tích ra tin tức đó, có không có quỷ thần, số tự nhiên. Dĩ nhiên hình và khí làm đầu đuôi, đã có thì có hình ấy mà không có khí ấy, có khí ấy mà không có hình ấy, đó là sự độc đáo kỳ lạ của điều tinh vi đó. (Nguyên văn: “Hinh pháp giả, đại cử cửu châu chi thế dĩ lập thành quách thất xá hình, nhận cập lục súc cốt pháp chi độ số, khí vật chi hình dung, đi cầu kỳ thanh khí quý tiện hung cát. Do luật hữu trường đoản, nhi các trung kỳ thanh, phi hữu quỷ thần, số | tự nhiên giã. Nhiên hình dữ khí tượng thủ vĩ, diệc hữu hữu kỳ hình nhi vô kỳ khí, hữu kỳ khí nhi về kỳ hình, thử tinh vi chi độc dị gia !”). Diễu Minh Huy viết “Hạn chí chú giải”, bảo: “Lấy thế quy mô lớn cả chín châu để lập thành quách  nhà cửa, tức là lấy đất cùng lấy hình” (Nguyên văn: đại cử cửu châu chi thế dĩ lập thành quách thất xá, tức tương địa tượng hình). 

Sách sưu tầm về loại hình pháp có bộ “Địa hình cung cấm nhà cửa” hai mươi quyền đã mất, Nhà học giả Nhật Bản Lung Xuyên Tri Ngôn đã nói khi khảo chứng về điều này : “Sách nói về phương vị phong thủy”. 

Hình pháp chỉ hình thù trạng mạo, không chỉ để chỉ đất cát. Sách “Tổng cục Tử khố toàn thư – Thuật số” đã nói rất rõ ràng: “Như hình pháp đã kể, kiêm tướng người tướng vật, tất không phải tôn chuyên dùng cho tướng nhà tướng đất, đều là đội lốt cả” – Nguyên văn : “Nhiên hình pháp sở liệt, kiêm tưởng nhân tướng vật, tắc phi tướng trạch tương đại chi chuyên danh, diệc thuộc giả thác”. . 

Trừ sách “Hán chí”, trong xã hội rất ít dùng đến từ “hình pháp”. 

c) Kham du: 

Từ “kham dư dùng sớm nhất thấy từ sách “Sử ký Liệt truyện nhật giả”, Chử tiên sinh nói : “Thời Hiếu Vũ Đế, tụ tập các thầy số hỏi rằng ngày X… có thể lấy vợ được không, nhà “ngũ hành” (bói quẻ) nói được, nhà “kham dự nói không  được”. 

| Kham dự nghĩa gốc là trời đất Kham chỉ trời, dư chỉ đất. Sách “Văn tuyển • chú thích bài phú Cam tuyên” nói : Sách “Hoài Nam tử” bảo : “Kham dự đi đực để biết cái”. Hứa Chân bảo: “Kham là đạo trời, dư là đạo đất”, “Sử ký – Tam Vương thế gia Sách Ân” viết: “Gọi đất là dư, trời đất có đức chở che, vốn cho trời là mui, cho đất cỗ xe”. Chu Tuấn Thanh đời 

Thanh trong sách “Thuyết văn thông tục định thanh” đã viết: “Mui kham ở chỗ cao, dư ở chỗ thấp nghĩa lý là trời cao đất thấp”. 

“Kham”, trừ ý nghĩa là trời ra còn hai ý nghĩa nữa. Một là chỉ “xông mạnh”. Sách “Thuyết Văn – Bộ Thổ” viết : “Kham, đất xông mạnh, từ đất vượt qua tiếng” (N “Kham, địa đột gia, tòng thổ, thậm thanh”). Đột là ý xuyên qua, hoặc cho theo ý tứ là “Khảm”, chỉ nơi đất trũng xuống. Nguyên văn : “Đột thị xuyên đích ý tứ, hoặc di vị thị khảm đích ý tứ, vị địa hãm”. Một nghĩa là dò xét, chỉ sự khám xét, có nghĩa tương đương. Đây là lối giải thích hai chữ “Khảm” Trung Quốc đọc như nhau, viết khác nhau và nghĩa cũng khác nhau – ND). 

Dư (cỗ xe) từng viết chệch đi thành “dư (thừa). Sách “Tùng thư – Kinh tích chí” thứ 3 “Bộ Tử – Ngũ hành loại” có ghi là “Kham du lịch chú”, “Kham dư”, “địa tiết kham dư”, “đại tiểu kham du lịch thuật”… trên thực tế đây là các sách đã qua. 

| Học giả đời Hán thường luận bàn về tham dự, chưa hẳn đều bàn giảng về trời đất mà thường bàn về thần quái. “Hán thư quyển 87 dẫn bài “Cam toàn phú” của Dương Hùng: “Đã chẳng lấy tường lũy thuộc kham dự ? Roi Quỳ Hư mà quật Xương Cuồng”. Mạnh Khang chú giải : “Kham Dư, tên thần, là người làm ra sách “Đỗ trạch thư. 

. Như thế theo sách đã dẫn, theo ý Mạnh Khang thì Kham Dư là vị thần làm ra bản đồ nhà cửa, sách vở. Sách “Đồ trạch thư đã bị mất, đến Vương Xung đời Hán có dẫn mấy đoạn nguyên văn của “Đồ trạch thư ghi vào trong sách “Luận Hành – thiền Cát Thuật”, Đoạn một viết : “Sách “Đồ trạch  thư viết : “Trạch (nhà ở) có tám thuật, lấy danh số lục giáp mà đưa vào, định ra danh vị, cùng thương khác nhau. Trạch có ngũ âm, tính (họ) có năm thanh, trạch không thích hợp với tính này, tính và trạch hại lẫn nhau, tất ốm đau chết chóc, phạm tội mắc vạ”. Đoạn hai viết : Sách “Đồ trạch thư nói : “Cửa nhà buôn không thích hợp hướng về Nam, cửa nhà chủy không thích hợp hướng Bắc”. Nguyên văn : “Trạch hữu bát thuật, dĩ lục giáp chi danh số nhi đệ chi; đệ định danh vị, cung thượng thù biệt. Trạch hữu, ngũ âm, tính hữu ngủ thanh, trạch bất nghi kỳ tính, tính dữ trạch tương tác, tắc tật bệnh tử vong, phạm tội ngộ họa”, “Thương gia môn bất nghi Nam hướng, Chủy gia môn bất nghi Bắc hướng”, 

Qua hai đoạn văn đã thất truyền này cũng thấy rõ ràng rằng “Đồ trạch thư” là sách về thuật phong thủy có liên quan đến các điều (cấm) kiêng kỵ về nhà ở mà Kham Dư ắt đã sáng tạo nên thần quái trong thuật phong thủy. 

d) Thanh năng. 

Thanh nang vốn là cái túi đen đựng sách của nhà tướng số thời cổ, về sau mượn đặt tên gọi nhà tướng số rồi lại lấy làm tên sách, tiến lên nữa lại là tên gọi riêng cho thuật phong thủy. Sách “Tấn thư- Quách Phác truyện” có ghi lại rằng có một nhà 

ẩn là Quách Công truyền dạy cho Quách Phác chín cuốn “Thanh Nang trung thư. Về sau “Kinh Thanh nang” truyền ra đời chuyên dạy về phong thủy. Trần Tử Ngang đời Đường có tập thơ “Trần Bá Ngọc tập” trong đó có câu : “Truyền đạo tìm bạn tiến, Thanh Nang bán quẻ bói”. 

e) Thanh Ô. 

Đời Hán có một vị phương sĩ (tức đạo sĩ tu Đạo giáo – ND) tên là Thanh Ô tử, nghe truyền là ông ta có soạn sách  “Táng kinh”, đời sau tôn ông lên làm ông tổ, lấy sách của ông làm kinh điển. Đời Bắc Châu có Dữ Tín viết trong “Du tử sơn tập” là :”Thanh Ô bói quẻ ất giáp, Bạch mã biến đổi tinh thìn” (tức sao trời – ND). Trong sách “Cựurường thư – Kinh tích chí” có ghi lại ba quyển “Thanh Ô tử, Liễu Tôn Nguyên đời Đường viết “Liễu tiên sinh tập” có câu “Cấn là núi, đoài là nước, linh là xe, dang ngược lại, con cháu vạn đời nhờ phúc thiêng, ai là người nói : Thanh Ô tử !”. Mấy câu này có thể nói rõ rất có thể Liễu Tôn Nguyên đã thấy qua sách “Thanh Ô tử”. Nhà thơ Lưu Vũ Tích đời Đường trong “Lưu Mộng Đắc tập” đã viết : “Hoàng Đế vạch đồng chia các châu, có Thanh Ô tử giỏi xem địa lý. Hoàng Đế hỏi ý kiến) để chế kinh”. 

g) Tuởng trạch (tướng nhà, tướng đất). 

Tập quán đời trước Tần có thói quen gọi tương địa (tướng đất) là tương trạch (tướng nhà). Sách “Thuyết văn” nói : “Nhà, nơi gửi (mình), từ mái đỡ tiếng” (nguyên văn : “Trạch, sở thác giã, tùng dòng thác thanh”. Ký thác, gửi, đỡ là chỉ ý gửi (mình) vào nơi ở. 

Trạch (nhà) vốn để chỉ nơi ở của người sống. Sách “Thượng Thư – Chiêu Cát tự” viết : “Thành Vương ở đất Phong, muốn nhà Lạc Ấp, sai Chiêu Công xem tướng nhà trước”. (Nguyễn văn : “Thành vương tại Phong, dục trạch Lạc Ấp, sử chiêu công tiên tướng trạch”. Sách “Truyện” viết: “Tưởng nơi ở mà bói ra” (Nguyên văn: “Tương sở cự nhi bốc chi”). Sách “Tả truyện – Chiêu cổng tam niên” viết : “Nhà của Tử gần chợ, chật chội ồn ào bụi bặm, không thể ở được”. Nguyên văn : tử chi trạch cận thị, gieo ải hiêu trần, bất khả di cư. Các điều kể trên đều để chỉ nơi ăn ở sinh hoạt của con người. 

Người chết rồi cũng cần nơi yên nghỉ giấc ngủ lâu dài, do vậy trạch (nhà) được gọi là mộ huyệt của người chết. Sách “Lễ ký – Tạp ký” viết : “Đại phu bởi nhà cùng ngày chôn”. Sách “Sở” lại viết : “Nhà gọi là đất chôn”. Nguyên văn: “Đại phu bốc trạch dự táng nhật”, “Trạch vị táng địa”. Sách “Hiếu kinh – Táng thân” viết : “Bói được triệu đất ấy mà yên gửi”, nguyên văn: “Bốc kỳ trạch triệu nhi an thác chi”. Sách “chú” lại viết : “Trạch cũng là huyệt mộ, triệu là khu vực mồ mả”. Nguyên văn: “Trạch, mộ huyệt gia; triệu, doanh vực gia”. Từ đời Hán về sau mọi người vẫn có thói quen gọi “trạch” là nơi đất chôn. Sách “Quảng nhà – Thích khấu” viết: “Trạch triệu, khu vực mồ mả, nơi đất chôn”. Nguyên văn : “Trạch triệu, doanh vực, tăng địa giấ”. 

Thuật “tưởng trạch” thực tế bao gồm hai mặt : một chỉ nơi ăn ở của người sống, hai là chỉ mộ địa của người chết. Nơi trên là dương trạch, nơi dưới là âm trạch. Điểm chung của cả hai là vì người mà tìm tướng đất, có tương đất rồi lại còn một số công việc kiến thiết nhất định nữa. Điểm khác nhau là nơi trên giành cho người sống, nơi dưới giành cho người chết, Nơi trên xét ra còn có ý nghĩa còn nơi dưới thật ra chẳng có ý nghĩa gì. 

h) Tướng đất. (Bình luận với chỗ giống nhau và khác nhau của thuật phong thủy). 

| Đất là địa lý. Thầy phong thủy thường được người ta gọi là thầy địa lý. Địa lý thời cổ đại thường chuyên chỉ những sự việc về phong thủy. Đời Minh có Lý Quốc Mộc viết “Địa lý đại toàn”, đời Thanh có Đoan Mộc Quốc Hô viết “Bốn loại địa lý nguyên văn của Dương Tằng”, Khấu Tông Tập đời Thanh viết “Cúc dật Sơn phòng địa lý chính thư. Các sách vở này không bị thu thập vào loại địa lý của triều đình mà lại liệt vào loại thuật số (tức sách bói toán – ND) linh tinh, vì đây toàn là cách nói về phong thủy. 

Chúng ta nhận thấy tướng đất và thuật phong thủy không thể hoàn toàn xếp ngang bằng nhau. Đó là vì: 

Xét thời gian sinh ra thì tương đất ra đời sớm hơn thuật phong thủy nhiều. Ngay từ thời xã hội nguyên thủy, con người vì mưu cầu nguồn tư liệu sinh hoạt, mong muốn ăn ở được an toàn và thoải mái thì đã bắt đầu chọn tướng đất rồi. Họ lang thang tứ xứ chọn nơi đất đẹp nhất để ăn ở. Họ quan sát núi đồi sông suối về hình thể và sự biến hóa của cây cối đất đá và đó là tướng của đất. Còn thuật phong thủy mãi đến đời sau mới sinh ra và chúng tôi sẽ bàn luận nguồn gốc của phong thủy ở các chương khác. 

Xét về phạm vi, tương đất có tính rộng lớn, từ nông nghiệp, săn bắn đến đắp thành, xây nhà, đi lại, quân sự… đều cần phải thông thuộc tình hình của đất. Còn thuật phong thủy chỉ bó gọn trong việc ứng dụng vào nơi ở với mồ mả. 

Xét về phương pháp, tướng đất có tính nghiêm túc, cần thiết xem xét quả núi dòng nước, đều phải đánh giá rất thực sự cầu thị. Còn thuật phong thủy có tính chủ quan rất lớn, chỉ căn cứ vào sự tưởng tượng trong đầu óc, tùy tiện giải thích hiện tượng địa lý theo ý mình. 

Xét về tính chất, tướng đất là hoạt động của con người nhận thức và cải tạo thế giới. Hiện nay nhà nước có cơ quan đo đạc địa chất chuyên môn mà công việc của họ cũng là xem xét tướng đất, là một hoạt động khoa học hẳn hoi. Còn thuật phong thủy tuyên truyền cho luận điệu duy tâm dựa vào việc lừa người để lấy tiền, đặc biệt là thuật xem tướng về âm trạch, hoàn toàn là hành vi mê tín dị đoan. 

Xét về hậu quả, thì tưởng đất có lợi trong việc cải tiến quan hệ của con người với hoàn cảnh, giúp con người ngày càng biết lợi dụng hoàn cảnh tốt hơn đạt tới độ điều hòa đầy đủ chủ quan với khách quan. Còn thuật phong thủy chỉ đưa tư tưởng con người tới chỗ trụy lạc hủ bại, chẳng có lợi gì cho việc xây dựng lối sống văn minh.Chẳng qua giữa tướng đất và thuật phong thủy cũng có chỗ liên quan : cả đôi đều cùng quan sát địa hình địa thế, đều cùng muốn đi vào thực tiễn và đưa ra kết luận về quan hệ giữa con người và hoàn cảnh. Thuật phong thủy là một nhánh phân hóa ra từ hoạt động của môn tướng đất, có điều, đó chỉ là trạng thái bệnh hoạn kỳ quặc mà thôi. Thuật phong thủy vay mượn những tri thức có tính hợp lý của môn tướng đất, ngược lại môn tướng đất cũng chịu một số ảnh hưởng không tốt của môn phong thủy. Nếu muốn đem thuật phong thủy và môn tướng đất chia lìa hẳn ra, sợ khó có thể làm thế được. Người đời đã đem môn tướng đất và thuật phong thủy nhào chung vào một cục và tình hình này vẫn sẽ còn tiếp tục nữa. Vì vậy có khi môn tướng đất lại là chỉ thuật phong thủy, có khi lại không nhất định chỉ thuật phong thủy. Vì vậy chúng ta phải biết chú ý phân biệt rõ ràng.

0/5 (0 Reviews)

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *